Go, therefore, and make disciples of all nations, baptizing them in the name of the Father,
and of the Son,
and of the Holy Spirit, teaching them to observe all that I have commanded you. And behold, I am with you always,
until the end of the age.

Mat 28:19-20

CÁI NHÌN CỦA ĐỨC GIÊ-SU


Trong Tông Chiếu “Misericordiae Vultus” (Khuôn mặt của lòng thương xót) ấn định Năm Thánh ngoại thường về Lòng Thương Xót bắt đầu từ 8-12-2015 đến 20-11-2016, Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô đã mở đầu với lời tuyên xưng như sau : “Chúa Giêsu Ki-tô là khuôn mặt của lòng thương xót Chúa Cha. Những lời này có thể tổng hợp sâu sắc mầu nhiệm của đức tin Ki-tô giáo.”[i] Để minh họa cho chủ đề của Năm Thánh về Lòng Thương Xót, logo của Năm Thánh được trình bày với hình ảnh Đức Giê-su vác một người tội lỗi trên vai, trong đó một trong những nét độc đáo là đôi mắt của Đức Giê-su hòa quyện vào đôi mắt của người tội lỗi. Hình ảnh này diễn tả cái nhìn của Đức Giê-su, Vị Mục Tử nhân lành, như chạm đến cách sâu xa con người tội lỗi bằng một tình yêu mãnh liệt đến nỗi làm thay đổi tâm hồn của người ấy[ii]. Đó là cái nhìn đầy lòng xót thương của Đức Giê-su, qua đó con người cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh.
Cái nhìn đầy lòng xót thương đó của Đức Giê-su được thể hiện trong cuộc đời rao giảng Tin Mừng của Người qua những lần Người tiếp xúc gặp gỡ dân chúng, nhất là những người nghèo đói, những người đau khổ, những người bệnh tật, những người tội lỗi và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội.
1. Cái nhìn với “đôi mắt của con tim yêu thương”Tin Mừng Mt kể rằng khi thấy đám đông dân chúng theo Người, Đức Giê-su đã chạnh lòng thương[iii] đối với họ, vì “họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36). Đức Giê-su, Vị Mục Tử nhân lành đã được ngôn sứ Ê-dê-ki-en loan báo (x. Ed 34,23) hằng thao thức, quan tâm, lo lắng cho đoàn chiên. Với lòng nhân từ vô biên của một Vị Mục Tử luôn ý thức trách nhiệm đối với đoàn chiên của mình, nên khi nhìn thấy dân chúng trong tình trạng đau khổ lầm than như đoàn chiên bị tán loạn, không ai chăm sóc (x. Ed 34,4), Đức Giê-su đã động lòng xót thương họ. Tác giả Tin Mừng Mt dùng hai động từ “thấy” và “chạnh lòng thương” (Mt 9,36) đi liền nhau như muốn nhấn mạnh đến cái nhìn của Đức Giê-su không phải là cái nhìn của một con người vô cảm, dửng dưng trước nỗi khổ của tha nhân, nhưng là cái nhìn với “đôi mắt của con tim yêu thương”, cái nhìn với tất cả tình người, và hơn thế nữa, cái nhìn với cảm xúc của Đấng Cứu Thế, qua đó diễn tả lòng thương xót của Đức Giê-su, Vị Mục Tử nhân ái dịu hiền. Cái nhìn đầy lòng thương xót đó đã khiến cho Đức Giê-su không chỉ dừng lại ở sự chạnh lòng thương, nhưng còn đi đến hành động cụ thể đối với đám đông dân chúng lầm than đi theo Người.
Một đoạn khác trong Tin Mừng Mát-thêu kể rằng khi trông thấy đoàn người đông đảo đi bộ theo Người, Đức Giê-su đã chạnh lòng thương và chữa lành các người đau ốm bệnh tật trong số họ (x. Mt 14,14). Ở đây chúng ta để ý bối cảnh lần này là Đức Giê-su đang muốn đi đến một nơi hoang vắng riêng biệt. Nhưng dân chúng vẫn đi theo Người và còn đi đến trước Người nữa. Họ đem theo cả những người bệnh để hy vọng được Người chữa lành. Thấy vậy, lẽ ra Đức Giê-su có thể khó chịu, bực mình vì bị dân chúng quấy rầy làm mất sự yên tĩnh của mình. Thế nhưng, Đức Giê-su không xua đuổi hay muốn trốn tránh họ, mà ngược lại, Người nhìn họ với ánh mắt cảm thương sâu xa và ra tay chữa bệnh cho họ. Không những thế, Người còn yêu cầu các môn đệ phải cho họ ăn, trong khi các môn đệ lại đề nghị Đức Giê-su giải tán đám đông để họ tự đi tìm mua lương thực trong các làng mạc. Sau đó, với năm cái bánh và hai con cá, Đức Giê-su đã đáp ứng nhu cầu lương thực cho họ. Tất cả họ được ăn và ăn no nê (x. Mt 14,15-21). Cách ứng xử của Đức Giê-su đã cho các môn đệ một bài học về lòng thương xót : nếu có một trái tim đầy yêu thương thì trước tình cảnh đau khổ của tha nhân, họ sẽ không nhìn tha nhân với ánh mắt lãnh đạm, sống chết mặc bây, nhưng sẽ nhìn tha nhân bằng ánh mắt của tấm lòng thương cảm sâu xa và sẵn sàng ra tay hành động thiết thực giúp đỡ tha nhân.
Với lòng thương xót của một trái tim dạt dào tình yêu, khi gặp gỡ những người đau khổ, Đức Giê-su như nhìn xuyên thấu được tâm tình cũng như nhu cầu sâu xa của họ. Tin Mừng Lc 7,11-15 kể rằng một lần nọ trên đường đi đến thành Na-in, khi trông thấy một bà góa khóc lóc đau khổ đang cùng với đám đông dân chúng khiêng một người chết là đứa con trai duy nhất của bà đi chôn, Đức Giê-su đã chạnh lòng thương. Cái nhìn của Đức Giê-su như hiểu thấu được tận tâm can của nỗi đau khổ tận cùng trong tuyệt vọng của bà góa khi mất đứa con trai duy nhất của mình. Thế là Người đã an ủi bà và nói với bà : “Bà đừng khóc nữa” (Lc 7,13), rồi Người lại gần sờ vào quan tài và nói với người chết : “Này người thanh niên, tôi bảo anh : hãy trỗi dậy” (Lc 7,14). Với lời quyền năng của Đức Giê-su, người chết được sống lại và Đức Giê-su đã “trao anh ta cho bà mẹ” (Lc 7,15). Chứng kiện sự kiện xảy ra, mọi người có mặt lúc đó đều kinh ngạc và tôn vinh Thiên Chúa rằng : “Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người” (Lc 7,16). Lời dân chúng thốt lên trên đây tiếp theo sau hành động cho đứa con trai của bà góa được sống lại nhờ lòng thương xót trắc ẩn của Đức Giê-su, khiến chúng ta nhớ đến bài thánh ca Benedictus : “Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta” (Lc 1,78).